Hạnh phúc cười trên nẻo đường con đi

12/05/2020 7:18
Pháp môn chánh niệm
Trong đêm thâu tĩnh mịch, trên bầu trời sao mai đã lấp lánh như một hạt kim cương lớn, ánh sao đủ sáng để tạo nên bóng trên mặt nước hồ Chuyển Hóa. Bên con đường sỏi đá, những đôi chân nối tiếp nhau bước những bước chậm rãi, ung dung. Phía trước, các bóng áo nâu đang khoan thai bước đi. Không có gì đợi chờ, đi để mà đi.

Tôi có mặt ở đây cho Tăng thân và cho màn đêm hiện hữu.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân rồn rột.
Tôi ngửi thấy hương thơm dịu nhẹ của hoa Chuông.
Tôi thấy mình trong chiếc lá vàng mong manh.

Đó phải chăng là dấu hiệu của một thực tại mầu nhiệm?



Sự hiện hữu của chúng kéo theo sự hiện hữu của tôi. Đến khi nụ cười trong đêm thâu bừng nở, tôi có cảm giác nhẹ nhàng, an lạc trong từng bước chân.

Từ ngàn xưa, thầy mở lối cho con trở về. Vậy mà con vẫn miệt mài lang thang chốn hoang vu hay phố thị phồn hoa, con đắm chìm triền miên trong giấc mộng sầu bi, danh vọng.
Về thôi, con đã trở về bên thầy, nơi chùa xưa chốn cũ. Để được nuôi dưỡng hạt giống bồ đề, để tìm lại được ánh mắt hồn nhiên, trong trẻo của em bé năm tuổi thơ ngây. Con nguyện dũng mãnh vượt gia những gian nguy, bão tố. Tay con trong tay thầy cùng xây giấc đại đồng.
Đã 9 tháng nay, sống trong Tăng thân để tập sự tu học, thực tập Thiền Chánh Niệm - pháp môn mà tôi hằng mong ước.

Phải chăng?
Điều quan yếu không phải là ta đang bước đi, đang ăn cơm, đang làm việc hay dể dàng hơn là khi ta đang thở.
Điều quan yếu là ta đang bước những bước thảnh thơi như thể bàn chân ta hôn trên mặt đất; ta quán tưởng lòng biết ơn khi thọ dụng tặng phẩm của đất trời; ta làm việc như người thanh nhàn vô sự nhất trên đời và thở vào tâm tĩnh tặng, thở ra miệng ta mĩm cười.

Mặt trời tích môn dần tắt, ráng chiều vời vời nơi phía chân trời. Trên đồi Ngắm Phật, ngồi trong tư thế hoa sen, chân phải gác lên chân trái, giữ cho lưng thẳng, hai mắt nhắm lại. Tôi bắt đầu ngồi thực tập như thế một cách chăm chú.
Mặt trời ý thức thắp lên, ánh sáng chánh niệm chiếu soi vào tận cùng các ngõ ngách tâm tư đưa tôi trở về trong giây phút hiện tại. Tôi thấy vạn pháp xung quanh hiển bày một cách rõ ràng.
Bên trong tôi, dòng sông tâm tưởng trôi dạt từ an ổn đến loạn động, từ quá khứ đến tương lai, tận mù khơi đến ngay trước mắt tạo thành những đợt sóng nhấp nhô có lúc dữ dội, có lúc êm dịu. Thực tập phép quán niệm hơi thở, chừng nữa giờ, thân tâm tôi lắng dịu.



Dù rằng, tôi sẽ không thể nào đạt đến sự lắng trong như “ly nước táo của bé Thủy”. Trong khi những xác táo nhỏ tuyệt đối vâng theo luật tự nhiên mà từ từ để mình rơi nhẹ xuống đáy ly thì tư tưởng của tôi lại như một đàn ong bay loạn xạ, không vâng theo một mệnh lệnh nào cả để lắng xuống.

Nhưng ít ra, tôi đã ngồi yên, thật yên để nhìn vào những đợt sóng bạt đầu nối tiếp nhau bày trò sinh diệt. Tôi thấy được sự sinh diệt của những đợt sóng nào động tới được nước. Sóng là hiện tượng, nước là bản thể. Sóng tan thành nước. Nước có mặt ở khắp cùng. Nước có trong nguồn suối cao, trong lòng đất sâu, trong đám mây, chiếc lá và trong cơ thể tôi.

Tôi mở mắt, miệng mĩm cười. Hai bắp chân tôi đã mỏi, tháo chân ra khỏi tư thế hoa sen, tôi bắt đầu xoa bóp cho máu chạy đều. Đằng xa, Phật vẫn ngồi yên ở đó tự bao giờ. Bất biến giữa vạn biến.

Trong thể tánh chơn như
Không chủ thể đối tượng
Đệ tử kính lạy Phật
Trong tương cảm mầu nhiệm.

Tôi quỳ xuống, chắp tay trước pháp thân mầu nhiệm, trước niết bàn diệu tâm. Tôi  thấy được pháp thân mầu nhiệm biểu hiện trong làn gió mát trong, trong chiếc lá đưa vẫy gọi, trong cánh chim trời tự do và trong cụm mây trắng thong dong. Trong tương cảm mầu nhiệm, tôi không phải là tôi, tôi trở thành tất cả, tất cả có mặt đầy đủ trong tôi.  
 
Nẻo về nguồn cội
Sụp lạy năm vóc sát đất, tôi quán tưởng về quá khứ, hòa nhập vào dòng sinh mạng của tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của mình. Tôi thấy mình chính là sự tiếp nối của tổ tiên. Vì vậy tôi chấp nhận và hòa đồng với tổ tiên.
Dòng chảy sinh động của lịch sử Phật giáo Việt Nam để lại cho hậu thế những kho tàng trí tuệ còn mãi với thời gian. Những chứng tích lịch sử từ thế kỉ XX như:

Trái Tim Bất Diệt của Bồ Tát Thích Quảng Đức. Ngọn lửa từ bi của Ngài rực sáng, vang động năm Châu. Chỉ 3 tháng sau khi Bồ tát tự thiêu, dưới áp lực của quốc tế, tình hình Phật giáo nước nhà được bình ổn.

Khối Óc Trí Tuệ của Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Quang. Trước cảnh Phật giáo bị chèn ép của chính quyền Sài Gòn, Sư ông dẫn đầu hàng vạn các nhà sư, Phật tử tổ chức những cuộc biểu tình bất bạo động, tuyệt thực. Những âm vang dũng mãnh,  không khuất phục trước họng súng đen ngòm của quyền lực. Lịch sử sang trang, Sư ông im lặng sấm sét, không màng thế sự, khen chê, không thanh minh, không tiếp khách, thanh thản dịch kinh. Sư ông sống như để trả lời câu hỏi về mình ngày trước: Sư ông chỉ là một ông thầy tu không hơn không kém, bây giờ cũng như bao giờ.

Đức Đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận. Tháng 11-1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập. Đặc biệt, đây là đại hội lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã thống nhất tất cả các giáo hội, giáo phái, hệ phái Phật giáo vào một ngôi nhà duy nhất. Đại  hội đã nhất tâm cung thỉnh Sư ông đảm nhận ngôi vị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sư ông ra ba điều kiện với Nhà nước: Trường Cao cấp Phật học tại ba miền Nam, Trung, Bắc và các Trường Cơ bản Phật học tại các tỉnh phải được mở ; Tăng, Ni được phép xuất gia tu học; được hoạt động tự do tín ngưỡng tại các cơ sở tự viện trong cả nước và tín đồ Phật tử được đi chùa học Phật nghe pháp tu tập. Trong bối cảnh khó khăn mà ba điều kiện này đặt ra như là cú sock lớn. 

Sư ông là một vị chân tu khả kính, suốt đời vì đạo, vì đời. Xuất thế giới hạnh tinh nghiêm, nhập thế lợi lạc quần sanh. Sư ông luôn khơi dòng trí tuệ Văn Thù và thể hiện hạnh nguyện Phổ Hiền làm tốt đời đẹp đạo. Nhờ đó, toàn thể hàng hậu học chúng con hôm nay được học tập chánh pháp và thấm nhuần thâm ơn pháp nhũ.

Dòng tu Tiếp Hiện của Thiền Sư Nhất Hạnh. Là một dòng tu theo phái Phật giáo dấn thân, do thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng lập tại Việt Nam vào tháng 2 năm 1966. Ba tháng sau, Sư ông lên đường sang Mỹ để vận động ngừng chiến tranh ở Việt Nam, truyền đạt các thông điệp vì hòa bình. Sư ông dự định trở về sau ba tháng. Vậy mà Sư ông phải ở đó suốt 40 năm.

...Đời đi về muôn lối
Quan san mộng hải hà
Chút lửa hồng bếp cũ
Ấm áp bóng chiều xa...

Ngọn lửa hồng bếp cũ cháy mãi trong trái tim tha phương, thắm đượm những chân tình hoài vọng quê hương. Cả cuộc đời Sư ông đi tìm chìa khóa hạnh phúc cho nhân loại. Chìa khóa đó chính là “Thực  tại nhiệm mầu”, là “Bây  giờ và ở đây”. 

Trải qua bao nỗi gian truân triền miên trong non nửa thế kỷ. Cuộc đời các Ngài đã rẽ ra những hướng khác nhau, đã để lại cho hậu thế khúc bi hùng âm vang hào khí ngất trời.
Chắp tay thành kính, đốt nén tâm hương, con xin dâng lên chư vị tiền nhân lòng biết ơn tròn đầy. Trong niềm khát vọng, hoài bão của tuổi trẻ. Con biết rằng chính sự gian khổ của tiền nhân sẽ hun đúc ý chí cho những thế hệ đi sau và nguyện noi theo gương sáng của chư vị tiền nhân trên con đường hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sanh.


 
Cánh cửa mở rộng
Năm 23 tuổi, sau khi tốt nghiệp đại học. Tôi bắt đầu đi trên con đường tìm kiếm thành công và hạnh phúc. Trang bị trên mình “đôi cánh non nớt “ tôi tìm về xứ sở “đất lành chim đậu”. Sài Gòn mênh mông, rộng lớn “dang tay” đón chào bất kỳ ai mang trong mình những ước mơ, hoài bão. Mảnh đất tình người nơi đây quá đỗi gần gũi, quá đỗi năng động giúp tôi hòa nhập ngay lập tức.

Tôi bắt đầu công việc phấn trắng, bảng đen. Nhìn khắp lượt bên dưới, những ánh mắt tròn xoe như những chú chim non và tiếng âm vang rộn rã, thích thú trong tiết học kỹ năng sống. Môn học mà bất kì học sinh nào cũng mong đợi.

Trên tay viên phấn trắng, bảng đen, tôi thấy rằng hai màu sắc tương phản nhau nhưng không tách biệt nhau, nương vào nhau mà biểu hiện. Phấn trắng nương bảng đen để hạt bụi phấn tách rời, bảng đen nương phấn trắng để viết nên sắc màu mới. Tự bao giờ, sự hợp nhất giản đơn này đã tạo ra những nét chữ từ trái tim hằn sâu trong miền ký ức của tuổi học trò. Cái thuở của khung trời hồn nhiên đầy mộng mơ.



Từ đó, tôi được nuôi dưỡng mỗi ngày bằng những tâm hồn trong trẻo và nụ cười, ánh mắt thơ ngây của trẻ thơ.

...Ngây thơ mắt biết hồn vô tội
Tràng ngập nhân gian vạn tiếng cười
Sầu đau nhân loại như mây khói
Phút chốt tan dần trong nắng mai...

Trong các bài thực tập thiền quán, sư ông Làng Mai có hướng dẫn bài bài thực tập trở về tiếp xúc, ôm ấp và vỗ về em bé năm tuổi trong ta. Hành giả quán tưởng mình là một em bé năm tuổi. Vào tuổi đó, ta mong manh rất dễ bị thương tích. Thấy được mình là một em bé dễ bị thương tích như thế, ta sẽ thấy tội nghiệp cho ta, ta sẽ thấy xót thương dâng lên thấm vào con người của mình. Ta cười với em bé năm tuổi bằng nụ cười của cảm thông, của xót thương. Nội kết của ta sẽ được chuyển hóa dần với sự thực tập này. Với sự hiểu biết, ta bắt đầu chấp nhận. Và ta sẽ có thể dùng hiểu biết và tình thương của ta để trở về giúp người ta thương được chuyển hóa như ta. Ta đã trở nên dễ chịu, ngọt ngào, có thêm nhiều bình tĩnh và kiên nhẫn.

Tôi chăm chỉ thực tập như thế. Sau hai năm, nhân duyên lành tôi tham gia một tổ chức xã hội về bảo trợ giáo dục cho trẻ em khó khăn. Từ những chuyến đi trên khắp các miền quê xa xôi của đất nước, được hòa vào với nhiên thiên, con người, nơi có những điều kiện sống khó khăn, tôi đã thấu hiểu sâu hơn về hai chữ “tình người”.

Tôi như cảm nhận được rằng, đất mẹ đã nuôi dưỡng tôi, đưa tôi đến để trò chuyện với người có những trăn trở, khó khăn tại những vùng đất mới. Càng đi, tôi càng nhận ra mình thật nhỏ bé giữa mênh mông, nhưng tôi không được phép để lòng mình nhỏ hẹp.
 

Tôi nghe có tiếng gọi của em thơ
Cánh cửa không thể nào còn khép lại
Cánh cửa tôi mở rộng trước gió
Mang tình thương trải khắp muôn phương.

Tôi nghe tiếng gọi nhiệm mầu vang lên nơi từng tế bào trong cơ thể. Từng nhịp, từng nhịp trong trái tim phập phồng, thôi thúc tôi về. Cuối cùng, tôi đã trở về. Tôi trở về ngủ yên trong lòng đạo cả. Chờ khi ánh mai lên, tỏa sáng khắp khung trời ước mơ.

Trung Nhuận

Tin Tức Liên Quan